Giải Nobel cho nghiên cứu kinh tế học hành vi

[TheBusinessVietNam] Giải Nobel kinh tế năm 2017 được trao cho GS Richard H. Thaler, đến từ Đại học Chicago, Hoa Kỳ cho những đóng góp của ông trong nghiên cứu về kinh tế học hành vi nhằm lý giải yếu tố tâm lý chi phối như thế nào tới các quyết định kinh tế.
 


Hình ảnh về GS Richard H. Thaler - người tiên phong nghiên cứu hành vi kinh tế học. (Ảnh nguồn: AP)

 

Giải thích những quyết định kinh tế “vô lý” của con người


Cho đến nay, quan điểm chủ đạo trong kinh tế học truyền thống giả định rằng tất cả mọi người đều đưa ra các quyết định kinh tế dựa trên những tính toán duy lý. Quan điểm đó tác động trực tiếp đến giới làm chính sách, ví dụ minh họa là những nhà quản lý thường ban hành các chính sách về kinh tế, xã hội thường dựa trên quan điểm là nếu chính sách đó có tác động tốt trên lý thuyết. Từ đó, khi đưa vào thực tế sẽ được đón nhận. 

Nhưng khoảng 20 năm trước đây, ngành kinh tế học hành vi đã xuất hiện và chứng minh điều ngược lại, đó là, con người không đưa ra các quyết định dựa trên những lựa chọn duy lý mà bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý. GS. Richard H. Thaler chính là người đi đầu trong việc xây dựng các lý thuyết thông qua tâm lý học hành vi, hay nói một cách ngắn gọn là ông đã đóng góp đưa kiến thức tâm lý học vào trong ngành kinh tế học, theo ý kiến của TS. Phạm Khánh Nam, nhà kinh tế học, chuyên gia nghiên cứu về kinh tế học hành vi ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Hội đồng giải thưởng Nobel năm nay công nhận, ông Richard H. Thaler đã khám phá một cách logic về hệ quả của các yếu tố xã hội trong đó bao gồm tính duy lý bị hạn chế, sở thích xã hội và tính thiếu kiềm chế bản thân sẽ ảnh hưởng như thế nào tới các quyết định của mỗi cá nhân rồi tới thị trường (mặc dù có thể quyết định điều đó không mang lại lợi ích trong dài hạn). Hơn thế nữa, Richard đã phát triển hệ thống lý thuyết và những công cụ thử nghiệm để đo lường trong kinh tế học hành vi gồm:

+ Tính duy lý bị hạn chế: Ông đã phát triển mô hình lý thuyết về “kế toán tinh thần”, giải thích về việc các cá nhân thường đơn giản hóa trong các quyết định liên quan đến tài chính bản thân bằng cách tưởng tượng và chia nhỏ tài khoản hiện tại, sau đó đưa ra quyết định dựa trên từng tài khoản thu chi nhỏ đó thay vì đưa ra một quyết định mang tính tổng thể. Ông cũng đưa ra một khái niệm (endowment effect: hiệu ứng sở hữu), thông qua phân tích tâm lý sợ rủi ro và mất mát của con người. Từ đó, lý giải tại sao con người lại đánh giá cao giá trị của những vật mà mình đang có hơn là khi không sở hữu nó.

Thông qua sở thích xã hội: Richard đã đưa ra một công cụ là (dictator game: trò chơi độc tài) để thực nghiệm về quan điểm công bằng ở mỗi cá nhân. Trong trò chơi “nhà độc tài” thứ nhất sẽ được quyền tùy ý chia một khoản tài trợ cho người thứ hai. Hành vi chia tiền của người đó sẽ thể hiện quan điểm của anh ta về sự công bằng (có hào phóng chia đều hay không). Công cụ này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu để đo lường thái độ đối với sự công bằng trong các nhóm người khác nhau trên khắp thế giới.

+ Tính thiếu kiềm chế bản thân: Thaler cũng đã phân tích tính kiềm chế bản thân của con người thông qua việc sử dụng mô hình lập kế hoạch, giống như cái cách mà các nhà tâm lý học và thần kinh học đã sử dụng nhằm quan sát mối quan hệ giữa việc xây dựng dài hạn với việc thực hiện kế hoạch đó trong ngắn hạn. Theo đó, những “cám dỗ” trước mắt thường là nguyên nhân quan trọng làm thất bại các kế hoạch dài hạn như tiết kiệm tuổi già hoặc một lối sống lành mạnh, hoặc đơn giản là chúng ta thường hào hứng lên kế hoạch vào đầu năm nhưng rất khó lòng thực hiện được.

 


Giáo sư Richard Thaler đã đóng góp đưa kiến thức tâm lý học vào trong ngành kinh tế học (Ảnh nguồn: TramDoc)


Phạm vi ứng dụng rộng rãi

Dù mới ra đời và phát triển trong hai thập kỷ trở lại đây nhưng kinh tế học hành vi đã được ứng dụng khá rộng rãi ở các nước phát triển, theo TS. Phạm Khánh Nam. Các nghiên cứu của GS. Thaler đã ảnh hưởng tới việc ra quyết định chính sách kinh tế xã hội ở một số nước trong thời gian gần đây. Dưới thời tổng thống Obama, đã có một ủy ban cố vấn về kinh tế học hành vi được thành lập để phân tích các yếu tố tâm lý sẽ ảnh hưởng như thế nào tới chính sách xã hội và Thaler cũng từng là cố vấn cho ủy ban này.

Ông đồng thời cũng là nhà tư vấn để đưa các ý tưởng về kinh tế hành vi vào xây dựng chính sách cho chính phủ Anh và tư vấn cải tiến hệ thống lương hưu của Thụy Điển. Hay trước sự kiện Brexit ở Anh, ông cho rằng các cử tri Anh đã không đưa ra lựa chọn hợp lý về mặt kinh tế dựa trên thông tin mà giới tinh hoa và truyền thông ở Anh cung cấp. “Hầu hết cử tri Anh đã không suy nghĩ [về việc bỏ phiếu Brexit] một cách có phân tích”, ông nói trong cuộc trả lời phỏng vấn của Marketwatch vào năm ngoái.

Việt Nam, kinh tế học hành vi vẫn là một xu hướng học thuật khá mới mẻ, chỉ được nghiên cứu trong khoảng năm năm trở lại đây, TS. Phạm Khánh Nam nhận định. Ở khu vực phía Nam, có hai nhóm nghiên cứu về kinh tế học hành vi ở ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và Đại học Cần Thơ, ở khu vực phía Bắc mới chỉ có nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Việt Cường, thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong. Cho đến nay, trong hệ thống đề tài của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted), đã có hai đề tài thuộc ngành kinh tế hành vi được tài trợ.

Tuy nhiên, “môn kinh tế học hành vi chưa được dạy hoặc dạy rất ít ở các trường đại học”, TS. Nguyễn Việt Cường cho biết. “Còn việc đưa ứng dụng của ngành này vào xây dựng các chính sách kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng thì vẫn còn xa lắm”, TS. Phạm Khánh Nam nói.

 

Nguồn: TiaSang

Bài viết cùng chuyên mục
Năm 2017: Kinh tế trực tuyến Đông Nam Á gặt hái 50 tỷ USD

330 triệu người dùng Internet tích cực. Con số này tương đương với dân số của Mỹ. Điều đó lý giải sự bùng nổ của kinh...

Hệ thống thuế Việt Nam được đánh giá có nhiều cải thiện

Nếu tính về mức thuế và lệ phí bình quân, Việt Nam nhỉnh hơn mức bình quân khu vực ở mức 38,1% so với 36,4%. Thậm chí...

Bình luận
Gửi bài

Thuật ngữ kinh tế

  • Mutual Fund – Quỹ tương hỗ

    Điều hành bởi một công ty đầu tư huy động tiền từ các cổ đông để đầu tư vào trái phiếu, cổ phiếu, các quyền chọn, các hàng hóa hoặc các loại chứng khoán khác. Các quỹ này thường...
  • Market Capitalization – Thị giá vốn.

    Giá trị của một công ty được xác định bởi giá thị trường đối với các cổ phiếu thường đã phát hành còn lại.
  • Poison Pill – Chiến thuật thuốc độc.

    Một thủ thuật để chống trả việc mua lại quyền kiểm soát công ty, được đưa ra để làm cho việc mua lại công ty trở nên quá tốn kém.
  • Net Income/Net Profit – Thu nhập ròng/Lãi ròng

    Cũng được gọi là “bottom line” hay lợi nhuận, là khoản còn lại sau khi trừ mọi chi phí và thuế trong thu nhập của một công ty.
  • Revenue – Thu nhập

    Toàn bộ số tiền mà một doanh nghiệp hoặc chính quyền thu được trong một khoảng thời gian nhất định.
Len dau trang