Sản phẩm "tốt" gặp người tiêu dùng thông minh


Trong thời gian vừa qua, xuất hiện rất nhiều phản ánh của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm từ hàng hóa họ mua có vấn đề. Rõ ràng, trong các trường hợp này, quyền lợi, sức khỏe của người tiêu dùng ít nhiều bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, một thực tế tồn tại hiện nay, đó là không phải người tiêu dùng nào cũng biết cách ứng xử phù hợp và bảo vệ mình khi bị xâm hại. Minh chứng cụ thể và được đông đảo dư luận đang quan tâm chính là vụ việc anh Võ Văn Minh (Cái Bè, Tiền Giang) bị tạm giữ hình sự để điều tra về hành vi cưỡng đoạt tài sản của Công ty Tân Hiệp Phát. Trước đó, anh Minh đã yêu cầu công ty phải đưa 500 triệu đồng, nếu không anh sẽ cung cấp cho báo chí và in tờ rơi phát tán việc trong một chai nước giải khát của công ty có ruồi. Vậy, người tiêu dùng phải ứng xử ra sao khi gặp phải tình huống tương tự?
 

1/  Xác định “người tiêu dùng”

Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ người tiêu dùng định nghĩa “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.

Như vậy, dưới góc độ pháp lý, tiêu chí xác định người tiêu dùng dựa vào mục đích của việc sử dụng sản phẩm (để tiêu dùng, sinh hoạt). Theo đó, những cá nhân, tổ chức không nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt như những thương nhân, cá nhân có mục đích sinh lợi, hoạt động thương mại thì không phải đối tượng điều chỉnh của Luật bảo vệ người tiêu dùng. Dĩ nhiên, họ không thể phản ánh và yêu cầu cơ quan bảo vệ người tiêu dùng bảo vệ quyền lợi của mình.

Trong trường hợp này, họ cần dựa vào hợp đồng đã ký kết với nhà sản xuất (hoặc nhà phân phối cấp 1) để khởi kiện hay yêu cầu trọng tài thương mại (khi đủ điều kiện) tham gia giải quyết tranh chấp, đòi bồi thường thiệt hại.


2/ Người tiêu dùng cần ứng xử ra sao?

Khi phát hiện sản phẩm “lỗi”, người tiêu dùng cần lưu lại chứng cứ, có thể bằng những cách như chụp ảnh, quay video có người làm chứng hoặc lập biên bản sự việc có chữ lý xác nhận của những người làm chứng…

Sau đó, người tiêu dùng có thể báo ngay cho Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng nói chung (khoản 2 Điều 9 Luật bảo vệ người tiêu dùng hiện hành). Người tiêu dùng có quyền yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện nơi thực hiện giao dịch giải quyết. Người tiêu dùng, tổ chức xã hội có nghĩa vụ cung cấp thông tin, bằng chứng có liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. (Điều 25 Luật bảo vệ người tiêu dùng hiện hành).

Trên thực tế, để có chứng cứ về việc đã thực hiện quyền của mình, người tiêu dùng nên lựa chọn phương thức yêu cầu bằng văn bản đến cơ quan bảo vệ người tiêu dùng cấp huyện nơi thực hiện giao dịch giải quyết.

Khi tiếp nhận thông tin phản ánh có cơ sở từ người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện có trách nhiệm yêu cầu các bên giải trình, cung cấp thông tin, bằng chứng hoặc tự mình xác minh, thu thập thông tin, bằng chứng để xử lý theo quy định của pháp luật. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản việc giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; trường hợp xác định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng, văn bản trả lời phải có các nội dung sau đây:

a) Nội dung vi phạm;

b) Biện pháp khắc phục hậu quả;

c) Thời hạn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả;

d) Biện pháp xử lý vi phạm hành chính, nếu có.

(Điều 26 Luật bảo vệ người tiêu dùng)


3/ Trong trường hợp người tiêu dùng đã thông báo đến nhà sản xuất về sản phẩm “lỗi”, lúc này cần lưu ý vài điểm sau:

-Không đe dọa:

Trường hợp công ty có sản phẩm “lỗi” cử người đến làm việc thì cần mời người làm chứng cho việc trao đổi, thỏa thuận giữa hai bên. Yêu cầu bồi thường của người tiêu dùng phải dựa trên các thiệt hại thực tế. Không được yêu cầu bồi thường quá cao so với giá trị thật của sản phẩm trên thị trường và đương nhiên là không được đe dọa. Nội dung thỏa thuận phải đúng pháp luật. Không thể thỏa thuận “mua sự im lặng” mà phải thỏa thuận theo hướng “bàn giao chứng cứ để đưa đi giám định, xác định nguyên nhân lỗi”. Hình thức thỏa thuận phải bằng văn bản, địa điểm công khai (tại trụ sở công ty, tại trụ sở chính quyền). Không nên chọn các địa điểm như quán nước… vừa không nghiêm túc, vừa dễ bị gài bẫy.

Người tiêu dùng còn có quyền cung cấp thông tin đến báo chí để xác minh thực tế vụ việc. Việc làm này không phải hù dọa bởi báo chí không phải tổ chức có quyền lực để đe dọa…

-Đảm bảo không có hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản:

Người tiêu dùng không được có hành vi đe dọa (dùng vũ lực, thủ đoạn khác) sẽ gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín bằng bất cứ thủ đoạn nào nếu người bị uy hiếp không thỏa mãn yêu cầu về tài sản của họ. Ví dụ người tiêu dùng không được thực hiện những hành vi như đe họa hủy hoại tài sản của người bị đe dọa; đe dọa tố giác hành vi phạm pháp hoặc vi phạm đạo đức của người bị đe dọa; đe dọa công bố những tin tức thuộc đời tư mà người bị đe dọa muốn giữ kín…

Nếu thực hiện hành vi trên sẽ thỏa mãn cấu thành của tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 Bộ luật Hình sự hiện hành:

“Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản 

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.


4/ Phương thức giải quyết tranh chấp

Khoản 1 Điều 30 Luật bảo vệ người tiêu dùng quy định về các phương thức giải quyết Tranh chấp phát sinh giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ như sau:

a) Thương lượng;

b) Hòa giải;

c) Trọng tài;

d) Tòa án.

Theo trích dẫn trên, thương lượng là một trong nhiều phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất. Người tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến nhà sản xuất để thương lượng khi cho rằng quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm. Nhà sản xuất có trách nhiệm tiếp nhận, thương lượng với người tiêu dùng trong thời hạn không quá bảy ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu. Kết quả thương lượng thành được lập thành văn bản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác...(Điều 31, Điều 32 Luật Bảo vệ người tiêu dùng hiện hành)

Như đã phân tích ở phần trên, người tiêu dùng khi lựa chọn phương thức thương lượng cần đặc biệt lưu ý đến việc không nên thương lượng bằng cách ngã giá, đe dọa, gây áp lực với nhà sản xuất vì có thể “gió đổi chiều”, bị gài bẫy ngược lại thành hành vi vi phạm pháp luật.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, trong trường hợp này người tiêu dùng có thể khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn có trụ sở (Điều 25, Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004) yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần (nếu có) hoặc yêu cầu cá nhân/tổ chức hòa giải để thực hiện hòa giải (Mục 2, mục 4 Luật Bảo vệ người tiêu dùng hiện hành). Phương thức trọng tài chỉ áp dụng trong trường hợp Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông báo về điều khoản trọng tài trước khi giao kết hợp đồng và được người tiêu dùng chấp thuận.

Theo Luatsuonline

Bài viết cùng chuyên mục
Nhiều doanh nghiệp bất động sản cố tình lách thuế

Mượn tên cá nhân khác trong giao dịch bán nhà, nhận đặt cọc để bán dự án chưa đủ điều kiện... là những chiêu lách...

Đề xuất ngưng nhập khẩu máy đào tiền ảo

Trong báo cáo tổng hợp ý kiến của các bộ ngành liên quan , Bộ Tài chính đề xuất trước mắt cần tạm dừng nhập khẩu đối...

Bình luận
Gửi bài

Thuật ngữ kinh tế

  • Credit - Tín dụng

    còn gọi là cho vay, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một...
  • Accumulated Debt - Nợ tích luỹ

    Là những khoản nợ phải trả có tính chất chu kỳ, phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân. Khi các khoản nợ này chưa đến...
  • Current Assets - Tài sản lưu động

    Là tài sản dự kiến được sử dụng trong thời gian ngắn (thuờng là 1 năm), bao gồm: tiền, tương đương tiền, tài khoản phải thu, kho, phần của các tài khoản trả trước đó sẽ được sử...
  • Leveraged buyout – Sự mua lại công ty, được cấp vốn bằng nợ.

    Việc mua lại một công ty của một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, chủ yếu được cấp vốn bằng nợ. Cuối cùng, các khoản vay của nhóm này được thanh toán bằng các quỹ phát sinh từ hoạt động...
  • Appreciation – Tăng giá trị của tài sản.

    Các nhà đầu tư, ví dụ như những người sở hữu nhà, đầu tư để chờ tăng giá, và điều này có thể làm cho giá ngang bằng với mức lạm phát, làm tăng nhu cầu nhà cửa hoặc thiếu nhà cửa.
Len dau trang