Viettel gia tăng thị phần dịch vụ Internet

Việc người dùng ồ ạt bỏ VNPT, đồng nghĩa với sự gia tăng thị phần nhanh chóng cho các đối thủ như Viettel hay FPT Telecom.

Với lợi thế là doanh nghiệp nhà nước và là người tiên phong, VNPT từ lâu vẫn được coi là ông lớn thống trị thị trường cung cấp dịch vụ Internet băng thông rộng. Tuy nhiên trong những năm gần đây, "ông lớn" này đang liên tục bị các đối thủ như Viettel và FPT Telecom "ăn thịt", khiến số lượng thuê bao giảm liên tục xuống dưới 50%.
 


Viettel liên tục gia tăng thị phần

Thị phần giảm liên tục từ trên 75% xuống dưới 50%

Từ lâu khi nhắc đến các nhà mạng Internet tại Việt Nam, người ta vẫn nghĩ tới thế chân vạc của 3 ông lớn là VNPT, Viettel và FPT Telecom.

Tính từ năm 2003 đến nay, tức thời điểm thị trường chứng kiến sự góp mặt đầy đủ của cả 3 nhà mạng này, thị phần cung cấp dịch vụ Internet tổng cộng của cả VNPT, Viettel và FPT Telecom luôn ở mức trên 80%. Kể từ sau năm 2008, con số này luôn ở mức trên 90%, phần đông các nhà mạng nhỏ lẻ khác như HTC, EVN, SCTV… chỉ nắm dưới 10% thị phần.

Có lợi thế lớn nhất là VNPT. Nhà mạng này là đơn vị đầu tiên gia nhập ngành với tư cách độc quyền cung cấp dịch vụ mạng cho các tổng công ty, công ty trực thuộc nhà nước từ những năm 90. Những năm đầu, thị phần của VNPT luôn trên 40%.

Năm 2008, VNPT nắm giữ hơn 75%, cao hơn nhiều so với tổng thị phần mà 2 đối thủ Viettel và FPT Telecom cộng lại.

Tuy nhiên, vị thế dẫn đầu này của VNPT đang lung lay dữ dội, trước tốc độ giảm tỷ lệ thị phần không phanh của nhà mạng này kể từ sau năm 2008.

Nếu như các năm 2008, 2009, 2010, dù có giảm, VNPT vẫn giữ được thị phần của mình trên mức 74%, thì đến năm 2011, con số này đã giảm chỉ còn 67,7%, năm 2012 là 61,26%, năm 2013 còn 56,25%. Những thống kê gần nhất từ Sách trắng công nghệ thông tin của Bộ thông tin và truyền thông, thị phần VNPT năm 2014 chỉ còn 51,3%.

Như vậy, kể từ năm 2010, thị phần của VNPT trên thị trường cung cấp dịch vụ Internet đã giảm tốc rất nhanh, với tốc độ giảm CAGR (-8%) đến (-10%). Nếu duy trì tốc độ này, thị phần của VNPT có thể chỉ còn dưới 50% trong năm 2016 này, và có thể bị một nhà mạng khác (đang có tỷ lệ tăng trưởng rất tốt) là Viettel vượt mặt. Đây là điều chưa từng xảy ra trong nhiều năm qua.

Điều này không phải là không có cơ sở. Theo những nhận định gần đây của công ty Cổ phần chứng khoán bản việt một số nguồn tin trong ngành cho biết, hiện tại thị phần của VNPT đã giảm xuống dưới 50% và dự báo xu hướng này sẽ tiếp tục trong vài năm nữa.

Người dùng bỏ VNPT sang Viettel vì giá cước cao không đi kèm chất lượng dịch vụ?

Cũng theo nhận định của công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt, một phần lý do khiến người dùng từ bỏ sử dụng mạng VNPT là do mức cước cao hơn mặt bằng chung, nhưng không đi kèm chất lượng dịch vụ.
 


Giá cước dịch vụ cao và chất lượng không tương ứng là lý do VNPT mất thị phần

Có thể thấy ở những gói cước mà VNPT cung cấp, tuy có tốc độ (MB) tương ứng với dịch vụ mà Viettel hay FPT Telecom cung cấp, nhưng lại có mức phí cao hơn. Cá biệt, có nhiều gói cước có tốc độ đường truyền kém hơn so với 2 đối thủ nhưng VNPT lại tính giá cước cao hơn hẳn.

Trên thị trường mạng Internet, do chỉ có 3 nhà mạng đã nắm hơn 90% thị phần, việc người dùng ồ ạt bỏ VNPT, đồng nghĩa với sự gia tăng thị phần nhanh chóng cho các đối thủ như Viettel hay FPT Telecom. Đây chắc chắn sẽ một bài toàn khó mà VNPT cần giải quyết sau khi thực hiện xong việc tái cơ cấu trong năm vừa qua.

Trong một lần trả lời báo chí gần đây, CEO VNPT Lương Mạnh Hoàng từng cho biết: “VNPT ra đời 60-70 năm nay, trong đó phần lớn thời gian là độc quyền, chỉ có khoảng 15 năm cạnh tranh. Thói quen, nề nếp đó thậm chí còn rơi rớt đến ngày nay, một số người vẫn chưa coi thương trường là chiến trường. Tuy nhiên, bình mới rượu cũng phải mới. Mô hình tổ chức đến mạng lưới kinh doanh, hành chính đang phải đổi mới nên tư duy đến phong cách kinh doanh của hơn 15.000 cán bộ cũng phải thay đổi”.

Mô hình kinh doanh và môi trường kinh doanh thay đổi, Viettel thích nghi với sự thay đổi thị trường tạo nên những kết quả nổi bật, liên tục gia tăng thị phần trong những năm qua nhờ chất lượng dịch vụ ngày càng tốt của mình. 

Long tran
tri thuc tre

Xem thêm
10 thương hiệu lọt vào top 1000 Châu Á

 

 

Bài viết cùng chuyên mục
Thị trường bất động sản Hy Lạp thu hút nhà đầu tư trong nước

Theo Ngân hàng Hy Lạp, giá bất động sản Hy Lạp đã giảm 40% so với năm 2007 do tác động của cuộc khủng hoảng nợ công.

Zara, H&M - Thời trang giá rẻ nước ngoài, nhưng đắt đỏ ở Việt Nam

Được coi là những thương hiệu thời trang bình dân trên thế giới, nhưng khi về Việt Nam, Zara và H&M làm nhiều...

Bình luận
Gửi bài

Thuật ngữ kinh tế

  • Leverage – Đầu cơ vay nợ.

    Việc một công ty sử dụng tài sản đi vay để tăng lợi suất trên vốn cổ phần của các cổ đông, với hy vọng lãi suất phải chịu sẽ thấp hơn lợi nhuận trên số tiền đi vay.
  • Current Assets - Tài sản lưu động

    Là tài sản dự kiến được sử dụng trong thời gian ngắn (thuờng là 1 năm), bao gồm: tiền, tương đương tiền, tài khoản phải thu, kho, phần của các tài khoản trả trước đó sẽ được sử...
  • Ngành nghề kinh doanh có điều kiện

    Là những ngành, nghề mà pháp luật, pháp lệnh, nghị định quy định các điều kiện hay yêu cầu mà Doanh nghiệp phải đáp ứng khi kinh doanh các ngành nghề đó. Điều kiện kinh doanh...
  • Trade Deficit - Nhập siêu

    Là khái niệm dùng mô tả tình trạng Cán cân thương mại có giá trị nhỏ hơn 0 (zero). Nói cách khác, khi kim ngạch nhập khẩu cao hơn xuất khẩu trong một thời gian nhất định, đó là...
  • Liquidity - Tính thanh khoản

    Là khả năng có thể nhanh chóng mua hoặc bán hàng hoá mà không bị ảnh hưởng của yếu tố giá cả. Và khoảng thời gian để mua và bán hàng hoá thường là ngắn hạn.  
Len dau trang